Theo G.Hêghen, “Phương pháp là ý thức về hình thức của sự tự vận động nội tại của bản thân nội dung”[1]. Như vậy, tương ứng với nội dung dạy học cần có  phương pháp phù hợp, mang lại hiệu quả cao nhất; không thể vận dụng hay thay thế phương pháp này bằng phương pháp khác một cách tùy tiện. Để xác định và sử dụng phương pháp dạy học tối ưu, trong quá trình giảng dạy người giáo viên cần phải trả lời được câu hỏi: Dạy cái gì? (nội dung gì?) trước khi xác định Dạy như thế nào? (bằng phương pháp nào?).Do đó, để lựa chọn và sử dụng phương pháp phù hợp, nâng cao chất lượng giảng dạy, đòi hỏi người giáo viên trước hết phải nắm vững nội dung của bài giảng, nếu không thì tình trạng “đọc – chép” như những “ông đồ ngồi trên phản” là tất yếu.

Khi giảng dạy Bài 2: Hàng hóa - Tiền tệ - Thị trường trong chương trình Giáo dục công dân lớp 11, ngoài việc nắm vững những nội dung cơ bản đã được trình bày trong sách giáo khoa, giáo viên cần chú ý nắm vững, phân tích và làm rõ thêm những nội dung cơ bản sau:

1. Hàng hóa

- Trước khi đi vào phân tích khái niệm hàng hóa cần giới thiệu khái quát về kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa nhằm làm cho học sinh hiểu được quá trình tồn tại và phát triển của các kiểu tổ chức kinh tế trong lịch sử. Kinh tế tự nhiên lµ kiÓu tæ chøc kinh tÕ mµ s¶n phÈm do lao ®éng t¹o ra nh»m ®Ó tháa m·n trùc tiÕp nhu cÇu cña ng­êi s¶n xuất. Kinh tế hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm sản xuất ra để trao đổi, để bán trên thị trường. Trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa là kinh tế thị trường. Mục đích của kinh tế hàng hóa không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất mà là để bán, tức là để thỏa mãn nhu cầu của xã hội- của người tiêu dùng. Sản phẩm được đưa ra trao đổi, mua bán gọi là hàng hóa.

- Khi giảng mục: b) Hai thuộc tính của hàng hóa, giáo viên thường chỉ trình bày, phân tích hai thuộc tính của hàng hóa: giá trị và giá trị sử dụng mà không phân biệt rõ hai thuộc tính đó. Điều này sẽ dẫn đến quan niệm lệch lạc của học sinh khi xem xét, giải thích các vấn đề kinh tế thực tế. Phần lớn học sinh đều cho rằng: giá trị sử dụng hàng hóa quyết định giá cả hàng hóa; hàng hóa càng có nhiều giá trị sử dụng, chất lượng càng tốt thì giá cả càng cao. Thực chất không phải vậy. Giá trị và giá trị sử dụng là hai thuộc tính của hàng hóa; giá trị sử dụng không quyết định giá trị hàng hóa. Giá trị sử dụng là công dụng để thỏa mãn nhu cầu của con người, là mục đích của người tiêu dùng khi tham gia trao đổi mua bán. Do đó, nó chính là phương tiện để người sản xuất bán được hàng hóa. Còn giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Giá hàng hóa là cơ sở chung cho việc trao đổi, là căn cứ  để hình thành nên giá cả hàng hóa trên thị trường. Như vậy, giá trị hàng hóa, hay chi phí lao động đã tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa mới là nhân tố quyết định giá cả hàng hóa chứ không phải là do giá trị sử dụng quyết định.

Từ sự phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hóa, người học sẽ giải thích được hiện tượng: trên thị trường, cùng một loại sản phẩm do những người sản xuất, có chất lượng khác nhau được bán với các mức giá cả khác nhau. Đó là vì: để sản xuất ra hàng hóa có mẫu mã đẹp, chất lượng cao buộc người sản xuất phải đầu tư nhiều công sức hơn, nhất là chất xám, trí tuệ để nghiên cứu mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm; đầu tư nhiều hơn cho máy móc, thiết bị tiên tiến làm cho chi phí lao động để sản xuất hàng hóa tăng lên. Và do đó, giá cả hàng hóa cũng cao hơn.

- Khi phân tích lượng giá trị hàng hóa, giáo viên cần chú ý làm rõ tại sao lượng giá trị hàng hóa được xác định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết. Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuấthàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động tiêu hao để sản xuất  ra hàng hóa quyết định. Nó được đo bằng thời gian lao động. Song không phải dựa vào thời gian lao động cá biệt của từng người sản xuất Không phải người sản xuất hàng hóa càng lười biếng hay vụng về thì giá trị hàng hóa của họ càng lớn vì phải dùng nhiều thời gian để sản xuất ra hàng hóa. Lao động tạo thành thực thể của giá trị là thứ lao động giống nhau của con người, là chi phí của cùng một sức lao động của con người…, tức là sức lao động xã hội trung bình. Vì vậy, lượng giá trị của hàng hóa không phải do mức hao phí lao động cá biệt hay thời gian lao động cá biệt quy định, mà nó được đo bởi thời gian lao động xã hội cần thiết.

Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định. Thực chất, thời gian lao động xã hội cần thiết chính là thời gian lao động trung bình của xã hội để sản xuất ra hàng hóa. Trong thực tế, nó thường trùng hợp với thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất cung cấp đại bộ phận loại hàng hóa đó trên thị trường.

Nếu làm rõ được vấn đề này sẽ làm cho học sinh hiểu được thực tế: có nhiều người cùng sản xuấtmột loại hàng hóa, nhưng điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề, năng suất lao động khác nhau, do đó thời gian để sản xuất ra hàng hóa (hao phí lao động) không giống nhau, nhưng khi đưa ra trao đổi trên thị trường, tại một khoảng không gian và một thời gian nhất định lại bán với cùng một giá. Bởi vì mức giá đó dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động trung bình của xã hội. Đồng thời, cũng từ đó người học sẽ hiểu rõ: trong nền kinh tế hàng hóa, muốn sản xuất kinh doanh có lãi đòi hỏi ngườisản xuất phải tích cực nghiên cứu thị trường, nắm bắt được sự biến động của giá cả thị trường để từ đó tìm cách nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm thấp hơn so với giá cả thị trường.

2. Tiền tệ

- Khi giảng mục: b) Các chức năng của tiền tệ, người dạy cần chú ý trình bày sự xuất hiện của tiền giấy; phân biệt tiền giấy với tiền vàng. Ban đầu khi thực hiện chức năng là phương tiện lưu thông: tiền làm môi giới trung gian trong trao đổi hàng hóa, tiền xuất hiện trực tiếp dưới hình thức vàng thoi, bạc nén. Điều đó gây ra một số khó khăn như: phải chia vàng, bạc thành những mảnh nhỏ để có thể trao đổi những mặt hàng có giá trị thấp; phải tiến hành cân đo để xác định số lượng; xác định độ nguyên chất của vàng, bạc... Vì vậy, để hạn chế những khó khăn đó, dần dần tiền được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc mòn dần và hao mòn mất một phần giá trị làm cho nó không còn đủ giá trị như ban đầu. Nhưng trong quá trình lưu thông, những đồng tiền đó vẫn được chấp nhận làm phương tiện lưu thông như những đồng tiền đang còn đủ giá trị. Từ đó dẫn đến tình trạng: giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Tiền bây giờ chỉ là ký hiệu cho quá trình trao đổi. Đã là ký hiệu thì cái gì cũng được, vì thế người ta thay các ký hiệu này bằng các kim loại ít quý hiếm hơn hoặc bằng tiền giấy. Như vậy, bản thân tiền giấy không có giá trị (trừ giá trị của vật liệu giấy dùng làm tiền). Nó chỉ là ký hiệu của giá trị, do nhà nước phát hành và buộc xã hội công nhận. Còn tiền chính là vàng, bạc.

Sự phân tích quá trình xuất hiện của tiền giấy là cơ sở để giáo viên phân tích chức năng phương tiện cất trữ và hiện tượng lạm phát trong nền kinh tế. Từ đó, giúp người học hiểu rõ hơn: tại sao chỉ có tiền vàng mới có thể thực hiện được chức năng cất trữ. Đó là vì chỉ có tiền vàng, bạc mới có đủ giá trị. Cũng trên cơ sở phân tích quá trình xuất hiện của tiền giấy sẽ giúp cho người học hiểu rõ hơn tại sao trong nền kinh tế hiện đại, khi tiền giấy được lưu thông phổ biến trên thị trường lại thường xuyên xảy ra lạm phát.

- Khi giảng mục c. Quy luật lưu thông tiền tệ, giáo viên cần chú ý làm rõ lạm phát là gì, nguyên nhân và hậu quả của lạm phát.

Lạm phát là tình trạng mức giá chung của của toàn bộ nền kinh tế tăng lên trong một thời gian nhất định.

Nguyên nhân cơ bản của lạm phát là sự mất cân đối giữa hàng và tiền. Khi vàng và bạc được dùng là tiền tệ thì nó thực hiện được các chức năng của tiền, nhất là chức năng cất trữ, nhờ đó tạo sự cân đối giữa tiền và hàng trong lưu thông. Nếu sản xuất giảm sút, số lượng hàng đem lưu thông giảm, lượng tiền trong lưu thông nhiều hơn, khi đó việc tích trữ tiền sẽ tăng lên, và ngược lại. Như vậy, khi tiền vàng được cất trữ nó đóng vai trò như là "kênh tiêu nước, lại vừa dùng làm kênh tưới nước cho số tiền đang nằm trong lưu thông, vì vậy mà chúng không bao giờ làm ngập những kênh lưu thông cả" [2].  Nhưng khi tiền giấy được phát hành thì tình hình lại khác. Tiền giấy chỉ là ký hiệu của tiền nên nó chỉ thực hiện được chức năng phương tiện lưu thông chứ không thực hiện được chức năng cất trữ. Vì vậy, khi lượng tiền giấy phát hành vượt quá số lượng tiền vàng, bạc cần thiết cho lưu thông mà nó đại biểu thì dẫn đến lạm phát. Như vậy, lạm phát là hiện tượng khủng hoảng tiền tệ, đồng tiền bị mất giá vì tiền giấy không thực hiện được chức năng là phương tiện cất trữ. Biểu hiện của lạm phát là mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong một thời gian nhất định.

Hậu quả của lạm phát: làm cho giá cả hàng hóa tăng lên, nhưng giá cả hàng hóa khác nhau lại không tăng lên theo cùng một tỷ lệ, điều đó phá hoại các quan hệ kinh tế, người  sản xuất  khó bảo toàn vốn kinh doanh, không muốn đầu tư; phân phối lại các nguồn thu nhập giữa các tầng lớp dân cư: có lợi cho người nắm giữ hàng hóa, cho người đi vay; thiệt hại cho người có thu nhập và nắm giữ  tài sản bằng tiền, cho người cho vay; khuyến khích đầu cơ, cản trở sản xuất  kinh doanh. Vì vậy, chống lạm phát là một trong những mục tiêu hàng đầu của các quốc gia, của nhà nước./.

Th.S Nguyễn Thị Diệp


[1] V.I.Lênin: Toàn tập, t.29, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 105.

[2] C.Mác và Ph.Ănghen: Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 203 – 204.